thietkevhome.com noithatvhome@gmail.com 0965 197 222 facebook.com/thietkevhome

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Câu chuyện Do thái: Văn hóa, truyền thống và con người

Là dân tộc thông minh nhất và là cái nôi sản sinh ra nhiều danh nhân cho thế giới nhưng vẫn còn rất nhiều câu chuyện thú vị mà người ta chưa biết về người Do thái.
Là người có nhiều năm nghiên cứu về tôn giáo đồng thời luôn yêu thích và ngưỡng mộ văn hóa, đất nước, con người Do thái, tác giả Đặng Hoàng Xa dựa trên những nghiên cứu, óc quan sát tinh tế của mình đã tiếp tục viết cuốn sách thứ hai về dân tộc Do Thái với tựa đề: Câu chuyện Do thái 2 – Văn hóa, truyền thống và con người.
Thông qua năm chương sách, tác giả giúp người đọc hiểu được nguồn gốc xuất xứ, phân loại nhân chủng người Do thái cũng như quá trình 4.000 năm hình thành, đấu tranh và gìn giữ văn hóa, truyền thống bản sắc của dân tộc này.
Về văn hóa, người Do thái không để lại những cung điện hay những tác phẩm nghệ thuật cổ quý giá như văn minh Ai Cập cổ đại, dân tộc đã xây dựng nên những kim tự tháp vĩ đại; hay văn minh dân chủ được khởi đầu bởi người Hy Lạp, đã sản sinh cho thế giới những Plato, Aristotle danh tiếng; hay thời kỳ cổ đại hoàng kim của người La Mã.
Với người Do thái lịch sử, mọi dấu vết của thời gian đã đi vào hư vô, duy chỉ còn lại Kinh Thánh Hebrew, món quà vô giá lớn nhất người Do thái cổ đại để lại cho văn minh nhân loại. Những nhân vật sống động trong Kinh Thánh đã gợi nguồn cảm hứng cho văn học và nghệ thuật thế giới nhiều thế kỷ sau đó.
Năm cuốn đầu tiên trong số 24 cuốn của Kinh Thánh Hebrew, được gọi là Ngũ thư Kinh Thánh hay Ngũ kinh Moses, chính là tâm điểm của đức tin Do thái. Trong suốt hành trình qua nhiều thế kỷ, những tín đồ Do thái giáo luôn hướng về Kinh Thánh để tìm nguồn cảm hứng và sự dẫn dắt, ở mọi nơi, mọi góc, giữa mọi khoảnh khắc đau buồn và cay đắng.
Bước ra từ một tôn giáo chung, những người Do thái đã phát triển phong tục, văn hóa, và một hệ thống đạo đức cùng bản sắc khác biệt dựa trên đó giúp xác định họ là ai cho dù thái độ tôn giáo cá nhân của mỗi người là gì.
Điểm đặc biệt là ở những nơi mà các dân tộc khác bị đồng hóa, thì người Do thái ngược lại đã hấp thu được những tinh túy của phong tục và cách sống của dân địa phương mà vẫn không đánh mất nền tảng của những giáo lý cơ bản của tôn giáo và văn hóa Do thái của riêng mình.
Trong Câu chuyện Do thái 2, tác giả Đặng Hoàng Xa đã giúp người đọc có cái nhìn tổng quan nhất về nguồn gốc hình thành dân tộc Do thái. Truy ngược nguồn gốc trở lại Thời kỳ Kinh Thánh (3000 – 538TCN), người Do thái có lịch sử trên 5.000 năm.
Người Do thái cổ đại vừa là người đi chinh phục lại vừa là kẻ bị chinh phục. Họ là số rất ít các dân tộc cổ đại đã tồn tại cho đến ngày nay, mặc dù qua nhiều thế kỷ bị đàn áp, bị tàn sát, và ly tán tới hầu hết tất cả các vùng đất trên thế giới.
Câu chuyện về sự sống còn của người Do thái có thể ví như một vở kịch đầy bi tráng – thắng lợi nối tiếp thất bại, ra đời như một phép lạ sau những thời kỳ tưởng như sắp bị diệt vong - một vòng lặp tiêu biểu cho lịch sử Do thái cho đến tận ngày nay.
Hai lần Ngôi Đền Jerusalem bị phá hủy và cũng là hai lần Israel nằm trên bờ vực thẳm. Từ thời điểm này, trong suốt 2.000 năm, người Do thái lang bạt khắp mọi nơi trên trái đất, gần thì rải rác ở Trung Đông, châu Âu, Bắc Phi; xa thì sang tận Trung Hoa. Từ cuối thể kỷ 19, hàng triệu người Do thái phần lớn từ châu Âu vượt biển sang tìm cuộc sống mới ở Hoa Kỳ…
Trong khoảng thời gian sáu năm 1939-1945 trong Thế Chiến 2, Đức Quốc xã với thảm sát Holocaust lại vô lý lấy đi trên sáu triệu sinh mạng của người Do thái. Một vết thương cho đến nay vẫn chưa lành. Vậy mà ba năm sau, 1948, nhà nước Do Thái ra đời trên vùng đất Israel, như một phép màu.
Có thể thấy rằng, trong thời gian Diaspora (lưu vong), người Do thái đã tạo dựng nên các cộng đồng rải rác trên khắp thế giới, và trong môi trường ấy, việc pha trộn với các nền văn hóa xung quanh đã giúp họ làm giàu thêm truyền thống và bản sắc của dân tộc mình.
Nếu có một hành khúc bi tráng, với những đoạn khúc rõ rệt, da diết, day dứt, bùi ngùi, trầm lắng rồi vút lên, đủ bậc thăng trầm của cảm xúc thì đó chính là hành khúc Do thái mà tác giả Đặng Hoàng Xa muốn ca lên, trong Câu chuyện Do thái 2: Văn hóa, truyền thống và con người. Đây xứng đáng là cuốn sách có mặt trong hành trình khám phá, tìm hiểu về đất nước, dân tộc nhỏ bé nhưng vô cùng vĩ đại này.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Cuộc hành trình độc đáo trên sông Thames

Ba gã cùng thuyền của Jerome K. Jerome là một tác phẩm “tình cờ” trở thành kinh điển.
Ban đầu tác phẩm là một cuốn cẩm nang về du lịch sông Thames, đăng nhiều kỳ trên tạp chí Home Chimes. Nhưng sau đó, câu chuyện về ba gã cùng thuyền trên sông Thames thực sự thu hút sự quan tâm của độc giả. Jerome đã quyết định bán bản quyền sách cho NXB ở Bristol, JW Arrowsmith, người đã thành công với những tác phẩm ba-mươi-sáu-xu (bao gồm các tác phẩm của Arthur Conan Doyle và Anthony Hope). Và ngay lần đầu tiên xuất bản vào năm 1889, cuốn sách lập tức nổi tiếng, liên tục được in cho tới tháng 3 năm 1909, xuất hiện bản in thứ hai. Trong phần giới thiệu ở bản in này, Jerome nói ông đã bán được khoảng 1 triệu bản (không bản quyền) khác ở Mỹ.
Cuốn sách đã trở thành một viên ngọc quý của thể loại hài hước trong suốt bao nhiêu năm qua.
Câu chuyện bắt đầu vào một ngày chán đời, ba chàng trai trẻ tuổi nước Anh bỗng cảm thấy chán ngán phố thị. Họ quyết định phải có một kỳ nghỉ hè, và sau những bàn bạc tranh cãi quyết liệt, và cũng không kém phần ngớ ngẩn, họ đã quyết định sẽ chèo thuyền trên sông Thames.
Ba gã cùng thuyền ấy là một Geoger luôn thấy khát, và luôn tìm thấy được thứ rất hay để uống, kể cả đó có là địa ngục hay thiên đường.
Đó là Harris với phương pháp làm việc khác người và chẳng bao giờ có thể dậy sớm, công việc chính của gã mỗi ngày chỉ là đến ngồi trên một chiếc ghế ở một ngân hàng và ngủ, chờ hết giờ làm.
Đó là “tôi”, một kẻ luôn làm chủ tình hình, một kẻ biết biện hộ cho bản thân, nhưng gã cũng là một kẻ bị bách bệnh. Gã đã tra từ điển y khoa, trong đó người ta liệt kê các bệnh được phát hiện của nhân loại và các triệu chứng của nó. Và gã, đã nhận ra mình có triệu chứng của tất cả những bệnh đó trừ bệnh sản giật. Ấy thế nhưng gã cũng có một bộ óc liên tưởng tuyệt vời, và từ gã, người đọc có thể nhìn thấy rất nhiều, rất nhiều những khung cảnh kỳ vĩ đẹp đẽ.
Đồng hành cùng ba người là chú chó Montoreency, một nhân vật không thể thiếu như trong bất kỳ những câu chuyện kinh điển nào.
Chuyến du hành của ba gã cùng thuyền sẽ đem đến cho người đọc những giây phút thực sự thư giãn, với những tình huống sẽ khiến bạn bật cười ngay lập tức.
Cuoc hanh trinh doc dao tren song Thames hinh anh 1
Những tình huống như dựng lều, nhóm lửa, kéo thuyền, thăm mộ, nghe hát… tưởng như vô cùng tầm thường lại khiến ai đọc cũng phải bật cười, vỗ đùi phấn khởi, tâm đắc, không hiểu sự liên tưởng vô cùng nào khiến tác giả có thể nghĩ ra những điều “bá đạo” đến vậy.
Bằng giọng văn miên man, chảy trôi, Jerome đã không chỉ tạo nên một tác phẩm hóm hỉnh đậm chất người Anh, gắn bó với dòng sông Thames lịch sử mà còn đưa đến cho độc giả những góc nhìn thực sự ý nghĩa về một cuộc hành trình, khám phá được những tầng sâu lịch sử, văn hóa và lối ứng xử của con người với thiên nhiên.
Một điểm đặc biệt trong Ba gã cùng thuyền chính là ngòi bút miêu tả vô cùng phóng khoáng và nên thơ của Jerome. Chuyến du hành song nước “độc nhất vô nhị” dọc sông Thames của ba gã đàn ông cùng con chó đã đem người đọc đến với những nét đẹp rực rỡ nhất của nước Anh. Phong cảnh tuyệt vời với những dấu tích lịch sử, văn hóa ly kì, hấp dẫn đã được Jerome đưa vào vào tác phẩm với sự trau chuốt và đầu tư ngôn từ kĩ lưỡng. Nói riêng thôi về việc miêu tả phong cảnh, Jerome đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa một cách tài tình. Không có gì của thiên nhiên mà ông không thể biến thành một thực thể sống động được. Ông thổi hồn cho chúng, đặt chúng vào hoàn cảnh xung quanh và tạo nên những xúc tác tự nhiên nhất, để mọi thứ đều trở nên sống động, gợi cảm nhất.
Thế nên, bước vào tác phẩm, cũng là đươc đồng hành trong một cuộc hành trình vô cùng thú vị, được tận hưởng hương trời gió nước, phơi phới mênh mông, được đắm mình trong tự nhiên vô tận, với đầy những bí ẩn mà ta không bao giờ hiểu hết được. Một cuộc hành trình miên man ấy, cũng như một cuộc hội hè miên man, khiến ta yêu và trân trọng thiên nhiên hơn, và dĩ nhiên, mùa hè vì thế trở nên đặc biệt quyến rũ. Và sau cuộc hành trình tưởng chừng điên rồ ấy, “cuối cùng chúng tôi cảm thấy rằng cuộc sống mới đáng quý làm sao”.
Cuốn sách cũng được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Bản tiếng Nga đặc biệt thành công và trở thành tác phẩm chuẩn mực trong nhà trường, có lẽ với tư cách là sự thật nơi trung tâm của đế quốc tư bản. Từ khi xuất bản, Ba gã cùng thuyền chưa bao giờ ngừng được in thêm, cuốn hút mọi độc giả, khi mà sự hài hước trong văn chương đang dần mất đi chỗ đứng trong lòng độc giả.

'Thời khắc' – những góc khuất u tối trong tâm hồn con người

Tiểu thuyết của nhà văn Michael Cunningham đi sâu vào khám phá những bí ẩn sâu thẳm, phức tạp và rối ren nhất trong mỗi nhân vật.
Thời khắc, trước hết là một tác phẩm vượt  qua ranh giới của những quy chuẩn thông thường. Mạch thời gian tuyến tính bị đảo ngược, xoay vòng. Ba nhân vật chính, ba người phụ nữ, sống ở ba thời đại hoàn toàn khác nhau. Số mệnh của họ được liên kết bởi cuốn tiểu thuyết có tên Mrs Dalloway.
Ở mạch truyện thứ nhất, người đọc bắt gặp nữ nhà văn Virginia Woolf, sống ở ngoại ô London năm 1923. Bà mắc chứng trầm cảm nặng nề, ngày ngày bị ám ảnh về đứa con tinh thần của mình, tiếu thuyết Mrs Dalloway.Mạch truyện thứ hai xảy ra ở California, năm 1951. Người vợ hiền Laura Brown đang chuẩn bị chiếc bánh sinh nhật cho chồng, tâm trí mơ màng nghĩ về Mrs Dalloway. Trong đầu cô liên tục nảy sinh ý định được trải nghiệm đời sống như nhân vật trong cuốn sách. Mảng cuối cùng lấy bối cảnh thành phố New York hiện đại những năm cuối thế kỷ XX, nhân vật chính ở đây là người phụ nữ 40 tuổi làm việc trong ngành xuất bản, Clarissa Vaughan. Bà được đặt biệt danh là “bà Dalloway” vì nhiều nét tương đồng. Clarissa Vaughan đang chuẩn bị buổi tiệc mừng người bạn thân, nhà thơ Richard, vừa nhận một giải thưởng. Bà phân vân về tình cảm mà Richard dành cho Sally Lester, người bạn gái đang chung sống cùng. 
'Thoi khac' – nhung goc khuat u toi trong tam hon con nguoi hinh anh 1
Tác phẩm Thời khắc của nhà văn Michael Cunningham.  

Ba người họ đều phải trải qua những khổ đau, suy sụp và có cả những giây phút hạnh phúc để nhận rõ giá trị từng khoảnh khắc trong cuộc đời mình. Những câu chuyện đan xen giữa quá khứ và hiện tại chồng chéo nhau. Các nhân vật của Michael Cunningham và nhân vật của Virginia Woolf cùng tham gia vào một câu chuyện, khiến chúng ta như đang chiêm nghiệm cùng lúc 2 tiểu thuyết. Bản thân người đọc dường như cũng băn khoăn trước câu hỏi: Liệu có phải cuộc sống của ta cũng là hình ảnh phản chiếu của một bản ngã khác trong quá khứ hoặc tương lai? 
Nhà văn Virginia Woolf và James Joyce là những người tiên phong vận dụng thủ pháo dòng suy tưởng. Tác giả Cunningham tiếp nối, vận dụng tài tinh thủ pháp này trong Thời khắc. Các nhân vật ở ba không gian khác nhau, ba thời đại khác nhau nhưng lại có sự tương  tác, liên kết chặt chẽ. Ranh giới giữa quá khứ, hiện tại và tương lai dường như bị phá bỏ. Nhưng dù ở thời điểm nào, người đọc vẫn không thể đoán trước được những tình huống đầy bất ngờ thú vị của câu chuyện.
Tác phẩm còn thể hiện bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật tài tình của Cunningham. Tiểu thuyết đã đi sâu vào từng ngõ ngách, bóc tách từng lớp lang trong tâm hồn mỗi con người. Nhà văn phơi bày những bí mật sâu thẳm, những diễn biến tâm lý phức tạp, những thời khắc đấu tranh với chính bản thân mình mà ai cũng phải trải qua. Đó là thời khắc lưỡng lự giữa sự sống và cái chết, thời khắc phát hiện những cảm xúc đi ngược lại với quy luật tự nhiên, thời khắc lưỡng tính của các nhân vật. Sự lưỡng lự về giới tính ấy âu cũng xuất phát từ sự chòng chành, bấp bênh trong cuộc sống của họ.
Thời khắc không phải là cuốn tiểu thuyết dễ đọc, tuy nhiên, nó đã mang lại giải Pulitzer cho nhà văn Michael Cunningham, đưa tên tuổi ông lên một tầm cao mới. Trên toàn thế giới, ông được tôn vinh như là một trong những nhà văn có tài năng kiệt xuất nhất trong số những người cùng thế hệ.
Tác phẩm được chuyển thể thành phim với sự góp mặt của ba nữ diễn viên nổi tiếng Hollywood: Nicole Kidman, Julianne Moore và Meryl Streep. Phim giành được giải Oscar 2002 dành cho nữ diễn viên chính Nicole Kidman, giải Quả Cầu Vàng 2002 dành cho Phim tâm lý xuất sắc nhất, Nữ diễn viên chính trong phim bi xuất sắc nhất…

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Đọc cổ tích của tác giả Ngọc Giao

Những giấc mơ về công chúa, hoàng tử trong câu chuyện cổ tích của bà và mẹ kể hàng đêm là điều kỳ diệu nhất cho sự lớn lên của tâm hồn trẻ thơ.
Nhà văn Ngọc Giao được biết đến là cây bút trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, chuyên về văn xuôi và sáng tác truyện cho cả người lớn lẫn thiếu nhi. Ông đặc biệt hứng thú với những câu chuyện cổ tích về các nhân vật thật mà hư, thần kỳ, thân thuộc và giàu ý nghĩa nhân văn. Các tác phẩm thiếu nhi, hồi ký tiêu biểu của ông như Hiền, Máu chảy một dòng, Đốt lò hương cũ...
Tập truyện Úm ba la – Hang Thuồng luồng tổng hợp những câu chuyện cổ tích do chính tác giả sáng tạo: Hoàng Trừu, Bầu sữa dê, Úm ba la, Hang thuồng luồng mang màu sắc diệu kỳ, bay bổng và chứa đựng những bài học nhân quả to lớn. Riêng Ma Thiên Lãnh là sự kết hợp giữa cổ tích và đồng thoại, khiến câu chuyện thêm phần lung linh huyền ảo, vừa rất xa lạ, song cũng lại hết sức đời thường, gần gũi. Với tuổi thơ, đó thực là một thế giới nghệ thuật đầy thú vị, mở ra nhiều cơ hội trải nghiệm và thu nhận bài học làm người.
Doc co tich cua tac gia Ngoc Giao hinh anh 1
Sách Úm ba la - Hang Thuồng luồng của tác giả Ngọc Giao.
Trong thế giới nghệ thuật của Ngọc Giao, bạn đọc nhỏ tuổi sẽ gặp lại những nhân vật cổ tích quen thuộc như hoàng tử, công chúa, nhà vua, thị tì, phù thủy, dân nghèo… Nhưng qua lời kể của ông, các nhân vật có một đời sống khác, số phận khác, vừa phảng phất sắc màu lịch sử, vừa đời thường dung dị. Ngoài ra, tác giả sử dụng các loài vật để vừa biểu đạt thế giới tự nhiên, vừa nói về cuộc sống con người. Các loài vật trong tập truyện nhìn chung tốt bụng, luôn tìm cách trả ơn con người; đây có lẽ cũng là một tấm gương về đạo lý…
Sự linh hoạt trong ngòi bút của nhà văn Ngọc Giao đã thổi làn hơi sinh động và nhân văn vào từng câu chuyện: từ những cảnh ngộ éo le, số phận đáng thương của nhân vật để làm nổi bật lên vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn của họ, dù có gặp khó khăn nhưng cũng nhận được kết quả tốt đẹp, có một cái kết hạnh phúc, đúng với triết lý "Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão"; hay đến các nhân vật trong lịch sử được truyền đạt một cách nhẹ nhàng và bình dị. Đây cũng là những bài học đáng quý cho trẻ em học hỏi và lưu giữ một cách dễ dàng và dài lâu.
Qua tập truyện Úm ba la - Hang Thuồng luồng, bạn đọc biết thêm về một phương diện sáng tạo của nhà văn Ngọc Giao, đặc biệt là tài năng và tình cảm ông dành cho tâm hồn trong sáng của các độc giả nhỏ tuổi.

'Tôi vẫn nghe tiếng em thầm gọi': Nhẹ nhàng như cánh hoa rơi

Tiểu thuyết của Ichikawa Takuji giờ đây không còn chỗ cho sự kỳ diệu hay phép màu, chỉ còn lại những kỷ niệm trong không gian và thời gian.
Có nỗi đau không mang tên, êm dịu nhưng sắc lẹm cứa vào lòng người. Tình đầu vụ vỡ của những tâm hồn méo mó nhưng đã từng ngập tràn yêu thương. Con người ta suốt cuộc đời vẫn luôn mơ về mối tình đầu, dù bất kể là nam hay nữ. Bóng dáng ấy mạnh mẽ tới nỗi đôi lúc lại trở thành một nỗi niềm ám ảnh.
Hoa anh đào rơi năm centimet trên một giây. Con số ấy không chỉ là vận tốc của những cánh hoa đang thả mình mà còn là vận tốc khi chúng ta lặng lẽ bước qua đời nhau, đánh mất bao cảm xúc thiết tha nhất của tình yêu. Vậy mới nói tình yêu là điều lạ lùng nhất thế gian, tưởng chừng nhanh lẹ mà chậm dãi, tưởng chừng vững bền trường cửu nhưng lại hóa mỏng manh.
Tôi vẫn nghe tiếng em thầm gọi là tác phẩm đầu tay của nhà văn Ichikawa Takuji khi ông mới bắt đầu tham gia văn đàn. Cuốn tiểu thuyết đặt những viên gạch đầu tiên cho sự thành công của Takuji, người luôn lồng ghép tình tiết kỳ bí, thần ảo để tạo ra những câu chuyện tình đau đớn, đẹp đẽ tới lặng người.
Khác với các tác phẩm trước đây từng xuất bản ở Việt Nam như Em sẽ đến cùng cơn mưa, Gặp người ấy cho tôi gửi lời chào, Nơi em quay về có tôi đứng đợi… luôn phảng phất đôi phần dự cảm về tương lai hy vọng, ngọt ngào một chút bởi các chi tiết dễ thương. Người đọc lần này nên chuẩn bị cho mình một tinh thần thật mạnh mẽ để có thể đối diện và hòa mình với “nỗi buồn tuyệt đối” trong Tôi vẫn nghe tiếng em thầm gọi.
Cuốn tiểu thuyết bắt đầu xung quanh mối quan hệ của Satoru Inoue và Yuko Igarashi. Hai kẻ u ám, chất đầy những suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống. Họ tình cờ gặp nhau như sự trùng hợp bất ngờ của định mệnh. Satoru thuộc kiểu người nội tâm, cậu thích chạy bộ xuyên qua những khu rừng xanh mướt để hứng lấy chút không khí dễ chịu cuối ngày. Yuko cũng vậy, cô luôn ám thị mình bởi cái chết lạnh lẽo đang phả hơi phía sau, giống như sự ra đi của người mẹ trong cơn bạo bệnh.
Cuộc hội ngộ như tay phải gặp tai trái tưởng chừng sẽ chấm dứt nỗi cô quạnh, lạc lõng của hai tâm hồn đang phiêu du vô định trong cõi đời. Duyên số có thể là người ban phúc nhưng cũng rất có thể sẽ là một kẻ tấu hài giỏi trêu ngươi. Satoru mắc bệnh lao phải dính chặt với thị trấn buồn tẻ trong khi ấy Yuko rời xa anh lên Tokyo để học đại học. Cuộc chia tay sẽ mở ra một dấu chấm hết hay sẽ tiếp tục là một thử thách của thần tình yêu? Satoru sẽ phải bước ra khỏi cái kén mình tự xây và tìm câu trả lời cho mọi điều đang hồ nghi bủa vây phía trước.
'Toi van nghe tieng em tham goi': Nhe nhang nhu canh hoa roi hinh anh 1
Tác phẩm đầu tay của nhà văn Ichikawa Takuji.
Trước cái chết đau xót của người em trai mình, Satoru luôn ân hận và dằn vặt bản thân bởi mình đã không tới kịp lúc. Từ đó, chàng trai luôn nghe được những tiếng gọi vang vọng từ quá khứ, thậm chí là cảm xúc thầm kín nhất trong lòng Yuko anh cũng dễ dàng cảm nhận được ngay cả khi cô nàng không nói ra. Bản thân anh cũng không thể chắc rằng đó là một món quà từ trên thiên đàng hay nó sẽ thành hình phạt đeo đuổi suốt quãng đời còn lại.
Những kẻ yêu nhau thường chung suy nghĩ đến kỳ lạ, họ có thể lắng nghe tiếng thì thầm từ trái tim trong vô thức. Mặc dù không ai nói ra nhưng tất cả đều ngầm hiểu. Các dự cảm nghiễm nhiên giao nhau dần dà trở thành tất yếu, một đặc quyền đầy sức mạnh của riêng các cặp đôi.
Nhà văn Ichikawa Takuji đã xây dựng một hình ảnh Satoru “méo mó” cả tâm hồn lẫn thể xác. Một người cực đoan, ích kỷ giống gần với bản thể đời thực của ông. Trong khi anh còn đang vùi thanh xuân của mình nơi thị trấn tẻ nhạt thì Yuko đã đi trước vài bước. Giống như nghịch lý Achilles và con rùa, anh chàng cứ cố mãi rốt cuộc cũng chỉ nhìn theo được bóng lưng cô gái mà anh thương.
Nhiều người hẳn sẽ hờn trách sự ích kỷ đáng khinh của Satoru khi anh cố ý dằn vặt Yuko bằng những lời lẽ cay đắng. Suy cho cùng đây cũng chỉ là một kẻ tội nghiệp đáng thương. Anh không muốn bước ra vùng an toàn để thấy những lời cười nhạo hay thương hại kẻ khác dành bản thân. Thị trấn tẻ nhạt kia là nơi anh thuộc về. Quyết định được đưa ra âu cũng hợp lẽ cho một sự giải thoát với cả hai, bấp chấp tiếng gọi trong âm thầm của Yuko từ Tokyo đang khắc khoải mong mỏi từng ngày.
Mối tình của hai người là một minh chứng rõ ràng cho sự thật chúng ta vô thức lãng quên hoặc cố tình không muốn đối mặt, bởi lẽ, dẫu có hợp tới tới mức tri kỷ, tâm ý tương thông cũng chưa chắc có thể cùng nắm tay nhau đi đến cuối con đường. Satoru tin chắc nếu yêu ai đó thật lòng thì hãy giúp cô ấy có cuộc sống tốt hơn nên anh buông bỏ.
Tác giả đi sâu vào lối dẫn dắt chi tiết với những câu thoại tràn ngập cảm xúc đôi bên, có thể nặng nề nhưng không bi lụy. Một phương pháp giải phóng cảm xúc bậc cao khi giam nén vô vàn điều tiêu cực rồi bung tỏa ra theo cách tự nhiên nhất khó ai đoán định. Ai ngỡ được rằng Yuko lại thay đổi nhanh như thế. Mâu thuẫn trong nội tâm cô luôn là một màn sương khiến Saturo nhầm tưởng và lạc lối. Để rồi kết thúc cuốn sách người đọc không phải ngậm ngùi hai chữ “giá như”.
Yuko là kiểu người rõ ràng và không để lẫn lộn giữa các thế giới. Cô có dễ dàng thích nghi nhưng trái tim chỉ hướng về một chốn bình yên duy nhất. Đau đớn, đắng cay thay những lời bộc bạch chân tình từ trái tim ấy lại không được đáp lại. Nó đến và đi như một phương thức truyền âm yếu ớt giữa không trung. Độc giả có thể đồng cảm với Yuko và thương cô nhưng vẫn sẽ có người than phiền về cách cô bỏ cuộc.
Liệu một chàng trai đợi cô gái được trong bao lâu và sẽ ra sao nếu câu ấy được hỏi ngược lại? Và phụ nữ thì đâu thể yêu hết tuổi trẻ được. Cái họ cần hơn cả là một gia đình, trong đó có người đàn ông họ yêu. Phật dạy: “Thế gian này quý giá nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi mà là hạnh phúc đang nắm giữ”. Tác giả Ichikawa Takuji cũng có chút tương đồng quan điểm bởi sau tất cả Satoru cũng nhận ra cuộc đời ngắn ngủi và ý nghĩa thực sự của việc yêu một ai đó, và anh đã rất hạnh phúc trong khoảng thời gian ấy.
Tình yêu như sợi dây, hai người kéo hai đầu, chỉ cần một người quá bất an lo lắng mà kéo căng hoặc buông lơi thì tình yêu ấy sẽ đội nhiên mà mệt mỏi căng thẳng hoặc chùng xuống. Bất kể thế nào khi sợ dây đó đứt, Yuko cũng không quá đau khổ khi mất đi một người vì lỡ bước mà chậm trễ nhưng với Satoru thì chắc chắn đã mất đi một người con gái đã rất rất yêu anh.
Tôi vẫn nghe tiếng em thầm gọi tiếp tục đề cập tới cái chết, một yếu tố đã thành thương hiệu của Takuji. Chúng ta luôn sẵn sàng để đối mặt với cái chết bủa vây nhưng khi nó diễn ra chúng ta mới bàng hoàng nhận thấy cảm giác mất mát ấy lớn hơn ta tưởng rất nhiều.
Thông điệp truyền tải ngắn gọn nhưng soi sáng thức tỉnh đến lạ lùng, là người phải biết yếu đuối đúng lúc và mạnh mẽ nhất khi cần, cái chết không đáng sợ như ta tưởng. Không ai muốn thanh xuân và tình yêu của mình sẽ ảm đạm sắc buồn như Satoru và Yuko.
Sự biệt ly và đau khổ trở thành cặp trạng thái đối lập và tác phẩm này đều thấm đẫm cả hai. Một tiểu thuyết hay dành cho tất cả, đặc biệt là những kẻ muốn chạm vào nỗi đau để vươn tới điều đẹp đẽ dung dị ẩn kín bấy lâu.

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

Sau một thời gian dài chìm vào quên lãng, truyện trinh thám Việt đang gây chú ý với những cây bút trẻ tạo được dấu ấn gần đây như Nguyễn Xuân Thủy, Đoàn Thụy Hải hay Di Li.
Dòng văn học trinh thám Việt Nam đang có những dấu hiệu thay đổi tích cực khi đem tới cho độc giả nhiều tác phẩm hấp dẫn, được giới chuyên môn đánh giá cao.

Từng một thời vàng son

Dòng văn học trinh thám, kinh dị đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu nhưng luôn bị đánh giá thấp, dưới tầm với những cách gọi như “văn chương giải trí”, “tiểu thuyết ba xu”. Ít nhiều những quan niệm đó cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của dòng văn học này nhiều năm qua.
Ở Việt Nam văn học trinh thám, kinh dị chịu sự ảnh hưởng lớn của văn hóa phương Tây. Nhiều tác phẩm được mô phỏng dưới dạng truyện điều tra giống với nước ngoài đã dần được hình thành và chuyển biến thành rõ rệt thành một nhánh văn học riêng mang tên: truyện trinh thám Việt Nam. Đáng kể nhất là tác phẩm đậm tính chất trinh thám đầu tiên phải kể là Mảnh trăng thu của Bửu Đình. 
Cuối  thập niên 1930 đến trước 1945 là thời kỳ phát triển nở rộ của tiểu thuyết trinh thám, xuất hiện cùng lúc nhiều tác giả chuyên viết mảng này. Những cái tên như Thế Lữ, Phạm Cao Củng, Bùi Huy Phồn nhanh chóng nổi lên với lối viết đậm nét, giàu hình ảnh, hút độc giả bằng những tạo hình nhân vật mới mẻ, phong trần.
Van hoc trinh tham Viet Nam: Hoi sinh hay tiep tuc yeu menh hinh anh 1
Thế Lữ là một trong những tác giả đi tiên phong trong văn học trinh thám Việt. 
Chắc hẳn với nhiều người sẽ không quên được hình ảnh chàng phóng viên Lê Phong của nhà văn Thế Lữ, với sự nhạy bén tinh tường và suy luận sắc sảo, anh đã phá được không ít những vụ án đình đám thời bấy giờ. Trinh thám của Thế Lữ pha trộn giữa trinh thám suy luận và trinh thám hành động, mang nhiều nét lãng mạn và nhiều yếu tố kịch. Đây là phong cách rất riêng làm nên dấu ấn của ông.
Nhiều quan điểm cho rằng đời sống của nhân dân ta khá yên bình, ít xảy ra những bối cảnh để thực sự có thể viết thành truyện gây ấn tượng hay ly kỳ nên sẽ không thể áp đặt, sử dụng những chi tiết của văn học phương Tây mãi được. Các cây viết luôn muốn hướng tới một dòng văn đậm chất bản địa, đậm chất Việt nhưng vẫn phải loay hoay tìm hướng giải quyết.
Sau sự phát triển ồ ạt và mạnh mẽ không hiểu vì lý do gì làng văn học Việt sau này lại thưa thớt hẳn dòng trinh thám, dù vẫn có một số tiểu thuyết tình báo (một dòng riêng của văn học trinh thám) đỉnh cao nhưX30 phá lưới (của Đặng Thanh), Ván bài lật ngửa (Nguyễn Trương Thiên Lý), Ông cố vấn (Hữu Mai), Ông tướng tình báo và hai bà vợ (của Đặng Trần Thiết)... Sau những tác phẩm này, truyện trinh thám “mất hút”.

Sự trở lại của những cây viết mới

Vài năm gần đây, các cây viết trẻ đang nỗ lực làm tươi mới lại văn học trinh thám Việt, một dòng sách hấp dẫn và hẳn có nhiều đất khai thác. 
Đơn cử trong đội ngũ này là nữ nhà văn Di Li. Trước thách thức của quan niệm coi nhẹ văn chương giải trí và tìm cách dung hoà giữa giải trí và nhân văn, cây bút trẻ Di Li đã chọn cho mình sự pha trộn nhuần nhuyễn của trinh thám và kinh dị. Viết được cuốn sách giải trí thành công cũng là nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật đó chưa hẳn là nghệ thuật văn chương. Còn với tác giả trẻ Di Li thì khác, giải trí và nghệ thuật được xác định ngay từ đầu theo chủ đích khi đặt bút viết, phải dung chứa nhau.

Oscar Wilde – Khi tài năng song hành cùng những bi kịch

Nhắc đến Oscar Wilde là người ta nhớ đến một con người tài hoa, bạc mệnh với nhiều thăng trầm và cũng không ít những tai tiếng trong sự nghiệp và cuộc đời.
Oscar Wilde, tên đầy đủ là Oscar Fingal O'Flahertie Wills Wilde, ông sinh ngày 16/10/1854 tại Dublin, Ireland trong một gia đình trí thức thuộc tầng lớp thượng lưu. Cha của ông là William Robert Wills Wilde một bác sĩ phẫu thuật, kiêm nhà khảo cổ học, người từng được Nữ hoàng Victoria phong tước Hiệp sĩ. Còn mẹ của ông là Jane Wilde là một nhà thơ ủng hộ các phong trào dân tộc và nữ quyền.
Từ nhỏ cậu bé Oscar đã bộc lộ tư chất thông minh và ham học hỏi. Được dạy dỗ trong một môi trường giáo dục tư gia điển hình của giới quý tộc Ireland, Oscar Wilde sử dụng thành thạo tiếng Đức và tiếng Pháp từ rất sớm. Đặc biệt, từ khi còn rất nhỏ ông đã bộc lộ là một đứa trẻ ham thích triết học, nhưng hơi nóng nảy và bốc đồng. Oscar Wilde sẵn sàng sử dụng vũ lực với bạn bè trong các cuộc tranh luận nếu bị khích động.
Oscar Wilde – Khi tai nang song hanh cung nhung bi kich hinh anh 1
Nhà văn Oscar Wilde.
Thừa hưởng tình yêu thi ca từ mẹ, những bài thơ chính là bước khởi đầu trong sự nghiệp sáng tác của Oscar Wilde. Năm 1878, sau khi tốt nghiệp Đại học Oxford, Wilde trở về Dublin vừa hay tin người tình từ thời niên thiếu của ông là Florence Balcombe đã đính hôn. Quá đau khổ, ông dồn hết tâm sức cho việc làm thơ, viết một số tiểu luận phê bình và tham gia thuyết giảng ở một số trường đại học ở Pháp và Anh. Trong khoảng thời gian từ 1878-1881, đã có hàng chục bài thơ và các công trình nghiên cứu của Oscar Wilde đăng trên các tạp chí lớn nhỏ.
Nhưng nhắc đến Oscar Wilde là người ta nhắc tới “vụ bê bối Queensberry”, một vụ việc gây chấn động trong giới quý tộc Anh thời bấy giờ. Năm 1891, Oscar Wilde gặp gỡ Alfred Douglas, con trai của John Sholto Douglas - người vẫn thường được biết đến với cái tên Hầu tước Queensberry. Oscar và Alfred đã nảy sinh mối quan hệ đồng tính và không hề dấu giếm điều này. Họ công khai đi cùng nhau đến nhiều trốn ăn chơi trụy lạc. Ở thời Victoria, những mối tình đồng tính được coi là một điều cấm kỵ, thậm chí là một “tội ác”. Chuyện tình cảm của Oscar Wilde và Alfred Douglas đã tốn không ít giấy mực của báo chí thời bấy giờ.
Quá tức giận vì những chuyện bị xem là đáng xấu hổ của con trai, Hầu tước Queensberry đã buông lời lăng mạn Oscar Wilde và yêu cầu ông tránh xa con trai mình. Sự xỉ nhục của ngài hầu tước đã khiến Wilde tức giận và đâm đơn kiện bố của người tình tội lăng mạ. Hầu tước kiện ngược lại Oscar Wilde tội lôi kéo con trai ông vào mối quan hệ "xấu xa". Theo đạo luật chống đồng tính luyến ái dưới thời Victoria, Oscar Wilde bị xử hai năm lao động khổ sai. Trong khi Oscar đang đau khổ về cả tâm hồn và thể xác thì Alfred bị gia đình ép sang Napoli, Italia trong 3 năm. Khoảng thời gian thi hành án khổ sai Oscar viết một số thư từ cho người tình, những bức thư này được công bố sau khi ông mất.
Độc giả Việt Nam mới đây được tiếp cận với di ản của Oscar Wilde qua tuyển tập truyện ngắn Tội ác của Huân tước Arthur Savile và các truyện ngắn khác. Bốn truyện ngắn tạo nên một bức tranh phong phú, soi rọi vào nhiều góc khuất trong đời sống của giới quý tộc Anh thời Victoria. Tác giả đã có những ngày tháng sống và trải nghiệm trong lòng xã hội thượng lưu phù phiếm ấy và hiểu rõ nó hơn ai hết.
Sinh thời, do những quan niệm cổ hủ về những mối quan hệ đồng tính, Oscar Widle luôn bị xem là một người có đạo đức suy đồi. Vì lẽ đó, ông luôn tự chất vấn bản thân mình qua các tác phẩm với những câu hỏi thường trực như: Thế nào là đạo đức? Liệu có đúng không khi con người cần đối mặt với tất cả mọi diện mạo của đời sống để đạt đến một cuộc sống viên mãn, thay vì trung thành tuyệt đối với những nguyên tắc đạo đức và quy phạm lề thói được xã hội vạch sẵn? Làm thế nào để sống chân thật với chính bản thân mình?
Oscar Wilde – Khi tai nang song hanh cung nhung bi kich hinh anh 2
Tập truyện ngắn Tội ác của huân tước Arthur Savile và các truyện ngắn khác.
Oscar Wilde chết ngày 30/11/1900 tại Paris vì bệnh viêm não trong hoàn cảnh nghèo túng. Đám tang của ông do Alfred Douglas đứng ra chủ trì. Mộ phần của Oscar Widle hiện được đặt tại nghĩa trang nổi tiếng Père Lachaise thuộc quận 20 của Paris, Pháp. Đây cũng là nơi yên nghỉ của nhiều danh nhân nổi tiếng như: Honoré de Balzac, Georges Bizet, Frédéric Chopin, Félix Faure, Jean de La Fontaine, Molière.

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Bí thư Đinh La Thăng thăm Hội sách TP HCM

Chiều 27/3, Bí thư Thành uỷ TP HCM Đinh La Thăng ghé thăm Hội sách TP HCM. Ông dạo các gian hàng và làm việc với Ban tổ chức Hội sách.
Ông Đinh La Thăng dừng chân khá lâu trước triển lãm sách về đề tài biển đảo, các gian hàng sách giáo dục, khoa học.
Bi thu Dinh La Thang tham Hoi sach TP HCM hinh anh
Bí thư Đinh La Thăng đi thăm Hội sách TP HCM
 .
Bí thư Thành uỷ TP HCM cho biết đã nghe danh tiếng của Đường sách và Hội sách TP HCM từ lâu. Hôm nay, ông đến và tận mắt chứng kiến cảnh ông dắt cháu, bố mẹ dắt con đi mua sách, thấy và cảm nhận được người dân TP HCM yêu sách đến thế. Trong khi cuộc sống ở TP còn nhiều điều chưa đẹp, Hội sách là nét văn hoá tạo được mang đậm dấu ấn nhân văn.
Ông Đinh La Thăng cũng đưa ý kiến rằng Công viên Lê Văn Tám là địa điểm tốt để tổ chức hội sách nhưng vẫn chưa khắc phục được nhiều nhược điểm như còn thiếu chỗ gửi xe, không khả thi nếu làm vào mùa mưa...
Bi thu Dinh La Thang tham Hoi sach TP HCM hinh anh
Bí thư Thăng cho biết ông mừng vì sự có mặt của những thương hiệu sách lớn trên thế giới tại Hội sách TP HCM.
Hội sách thực hiện trong tháng 3 chưa đến mùa mưa nhưng chưa hoàn hảo vì chưa đến nghỉ hè, học sinh, sinh viên không có điều kiện đi nhiều. Bí thư chỉ đạo thành phố nên xây dựng một địa điểm chính thức, rộng rãi, hợp lý hơn để nếu được thì trong tương lai, nâng tầm hội sách lên thành hội sách quốc gia.

Popular Posts

Được tạo bởi Blogger.